Bệnh Học là trang thông tin chuyên về bệnh và sức khỏe trong đời sống. Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính tham khảo.

Suy tĩnh mạch: Nguyên nhân, phòng ngừa và điều trị bệnh

[Total: 0    Average: 0/5]

Suy tĩnh mạch là tình trạng suy yếu chức năng của các tĩnh mạch ở chân, tức là việc dẫn máu về tim không còn hiệu quả nữa, gây ứ đọng máu ở phần thấp của chân và lan lên dần. Hậu quả là các tĩnh mạch bị quá tải, căng dãn ra, làm thoát dịch ra mô xung quanh gây ra các triệu chứng tại chỗ như mỏi chân, nặng chân, vọp bẻ (chuột rút), đau nhức bắp chân, ngứa da, phù chân…

Suy tĩnh mạch

Có nhiều loại giãn tĩnh mạch chân:
Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương, bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:
1. Nhóm giãn tĩnh mạch tiên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giãn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

2. Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: Ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.

3. Giãn tĩnh mạch ở người có thai, do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra khi có thai.

4. Giãn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và dò động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

  1. Nguyên nhân gây bệnh

Những thói quen hàng ngày được liệt kê dưới đây sẽ góp phần làm cho bệnh Suy tĩnh mạch phát triển theo thời gian, được phân làm 3 nhóm nguyên nhân sau đây:

1. Các yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng hoặc đè ép trực tiếp lên đường đi của tĩnh mạch sâu (làm cản đường máu chảy về tim)

– Mang thai
– Mặc quần áo bó sát (quá chật bụng hoặc bó sát chân)
– Các môn thể thao làm tăng áp lực ổ bụng và nhấc vật nặng
– Ho mạn tính hoặc táo bón (rặn sẽ tạo áp lực mạnh lên các tĩnh mạch chân do tăng áp lực ổ bụng)
– Ngồi lâu hoặc bắt tréo chân kéo dài
– Béo phì

2. Các yếu tố làm dãn trực tiếp thành tĩnh mạch

Cồn (uống rượu, bia…), thoa dầu nóng
Nước nóng, hơi nóng (ngâm chân nước nóng, đứng lò, đi chân trần trên cát hoặc phơi chân trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời…)
Các nội tiết tố như:
– Uống thuốc ngừa thai
– Nội tiết tố (hormone) trong lúc mang thai
– Nội tiết tố thời kỳ mãn kinh
Như vậy có thể thấy rằng mang thai là yếu tố nguy cơ cao vì phải chịu cùng lúc 2 nhóm nguyên nhân: tăng áp lực ổ bụng và thành mạch yếu do nội tiết tố lúc mang thai. Các nghiên cứu cho thấy 50% phụ nữ mang thai lần đầu sẽ bị suy tĩnh mạch sau 5-8 năm sau khi sanh biểu hiện bằng các triệu chứng sớm. Nếu sanh con lần thứ 2 thì tỷ lệ cao hơn và sớm hơn. Phụ nữ thời kỳ mãn kinh cũng dễ bị suy tĩnh mạch hơn do thành mạch yếu.

Vì các lý do trên, nên phụ nữ mắc bệnh suy tĩnh mạch nhiều hơn nam giới, đặc biệt tăng lên nhiều sau thời kỳ mãn kinh.

Thuốc ngừa thai cũng là nhân tố gây suy tĩnh mạch

3. Các yếu tố làm giảm hoặc làm triệt tiêu hoạt động bơm của cơ

Phải làm việc ở tư thế đứng hoặc ngồi cả ngày
Mang giày cao gót quá mức
Bất động chân quá lâu do bệnh tật (tai biến, chấn thương sọ não, gãy xương, đau thần kinh tọa không dám đi lại…)
Liệt chân hoàn toàn

Thêm vào đó, yếu tố nguy cơ chính được kể đến là bẩm chất di truyền. Thường trong gia đình có nhiều người bị suy tĩnh mạch. Cùng một yếu tố nguy cơ như nhau, với cường độ và thời gian như nhau, nhưng thành mạch “yếu hơn” của nhóm người trong gia đình có nhiều người bị, thì sẽ dễ bị suy tĩnh mạch hơn người khác.

2. Triệu chứng thường gặp:

Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi đi ngủ. Về sau, các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn nghoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng v.v…
Những bệnh nhân ăn theo chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.
Mức độ : Mức độ suy tĩnh mạch mạn: Dựa vào các ctriệu chứng lâm sàng, người ta chia suy tĩnh mạch mạn tính thành nhiều mức độ:

Suy tĩnh mạch nặng nhẹ
– Độ 0: Chỉ đơn thuần có triệu chứng cơ năng như đã mô tả
– Độ 1: Giãn các tĩnh mạch xa, tĩnh mạch lưới, sưng vùng mắt cá chân.
– Độ 2: Xuất hiện giãn tĩnh mạch rõ, điển hình.
– Độ 3: Có kèm theo phù nhưng không có những biến đổi của da.
– Độ 4: Đã có biến đổi của da như sạm da, chàm, xơ mỡ bì.
– Độ 6: Biến đổi da và có loét tiến triển.

3. Điều trị :

– Thuốc : Các thuốc kháng viêm làm giảm các triệu chứng tại chỗ do chất dơ ở tĩnh mạch thoát ra ngoài gây viêm, ngứa… Trong khi các thuốc làm giảm tính thấm thành mạch có tác dụng làm giảm thoát dịch ra mô xung quanh, do đó làm giảm phù. Tuy nhiên, khi phù đã nặng thì các thuốc này không đủ sức chống chọi mà phải nhờ một tác động cơ học làm khép van lại, đó là vớ y khoa : Làm phục hồi tác dụng van một chiều vẫn là điều cơ bản nhất trong điều trị bệnh tĩnh mạch. Khi đó, thuốc sẽ hỗ trợ đáng kể trong vài tuần đầu mang vớ ở những người có phù hoặc có những biến chứng tại chỗ do ứ đọng chất dơ gây ra.
Vớ y khoa có nhiều loại khác nhau dùng để phòng ngừa và điều trị bệnh suy tĩnh mạch ở các giai đoạn khác nhau, giúp ngăn chặn tiến triển xa hơn của bệnh, ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh, giúp mới làm khép van tĩnh mạch, phục hồi tác dụng van “một chiều”, và làm tăng tốc độ lưu thông máu nhờ tạo độ dốc áp lực dẫn máu về tim dễ dàng hơn.

No Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

© Copyright 2016 Bệnh Học, All Rights Reserved

Design by Dịch vụ SEO

DMCA.com Protection Status Các thông tin trên Benhhoc.org chỉ mang tính chất tham khảo. Khi có vấn đề tương tự, bạn phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ. Chúng tôi tuyệt đối không chịu bất cứ trách nhiệm nào do bạn đọc tự ý áp dụng các thông tin trên Benhhoc.org gây ra.